Home / ⚖ Pháp luật / Khi nào Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?

Khi nào Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?

Tòa án chỉ giải quyết vụ án dân sự trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có nghĩa là gì? Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự không? Trong trường hợp đang xét xử vụ án dân sự mà phát hiện ra tình tiết mới có lợi cho đương sự, nhưng đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án có thể tự mình giải quyết quyền lợi hợp pháp cho đương sự không?

I. Tòa án chỉ giải quyết vụ án dân sự trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại khoản 1, điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” 1. Vậy thì, quy định này có ý nghĩa như thế nào trong tố tụng dân sự?

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là một quyền tự quyết định và tự định đoạt của đương sự, đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì thì Tòa án chỉ giải quyết vấn đề đó, không giải quyết những vấn đề ngoài phạm vi mà đương sự yêu cầu.

1. Quy tắc chung: Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu.

Về nguyên tắc, Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp dựa trên đơn đề nghị của các bên, không tự ý can thiệp nếu không có yêu cầu.

Ví dụ: Nguyên đơn yêu cầu đòi bồi thường 50 triệu đồng, Tòa án không thể tự ý tuyên bị đơn phải trả 100 triệu đồng (ngay cả khi Tòa án thấy thiệt hại thực tế lớn hơn), trừ khi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trước hoặc tại phiên tòa.

Tôn trọng quyền tự định đoạt: Các bên có quyền khởi kiện, rút đơn, thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu. Tòa án chỉ xem xét những gì tồn tại trong phạm vi yêu cầu hợp pháp hiện hành.

Ví dụ: A mượn B số tiền 10 tỷ đồng và một chiếc xe oto BMW hẹn ngày 15/12/2012 sẽ trả, đến thời hạn trả tiền và xe nhưng A không trả nợ, B nộp đơn kiện A Tòa án và yêu cầu Tòa án xét xử, yêu cầu A phải trả cho B số tiền 10 tỷ đồng.

Lúc này, mặc dù có chứng cứ A mượn B 10 tỷ đồng và chiếc xe oto BMW là hợp pháp, nhưng B chỉ yêu cầu A trả lại 10 tỷ đồng thì Tòa án cũng chỉ xét xử và ra quyết định yêu cầu A trả lại cho B số tiền 10 tỷ đồng, không được xét xử và yêu cầu A trả lại cả chiếc xe cho B, mặc dù A mượn xe của B thật nhưng nếu như B không yêu cầu thì Tòa án không giải quyết.

Nhìn vào ví dụ trên chúng ta có thể thấy được rằng, quyền lợi của B đang bị lãng quên là một chiếc xe oto hiệu BMW, (Tòa án sẽ biết điều này) nhưng nếu như B không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề yêu cầu A trả lại chiếc xe oto hiệu BMW đó thì Tòa án cũng sẽ không giải quyết, mặc dù chứng cứ đầy đủ. Đây là một quyền tự định đoạt và tự quyết định khởi kiện của đương sự.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết khi có yêu cầu.

Công dân có quyền khởi kiện, hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, khi nhận được yêu cầu, hoặc đơn khởi kiện của người dân thì Tòa án không được từ chối, mà buộc phải xét xử, giải quyết yêu cầu của công dân, bất kể vụ việc có giá trị lớn hay nhỏ thì Tòa án vẫn phải thực hiện theo yêu cầu của đương sự.

Ví dụ: A nộp đơn khởi kiện B ra Tòa án yêu cầu B phải trả khoản nợ 5.000đ thì lúc này, Tòa án phải thực hiện xét xử và yêu cầu B trả lại số tiền 5.000đ cho A nếu có căn cứ pháp luật, không phải vì giá trị 5.000đ quá nhỏ mà Tòa án không giải quyết, đó là sai quy định của pháp luật.

Nhìn vào ví dụ này, nhiều người sẽ có suy nghĩ rằng: Có 5.000đ mà cũng kiện làm gì cho mất công, mất thời gian, có 5.000đ mà đi kiện thì dễ gì Tòa án người ta giải quyết cho. Tuy nhiên, suy nghĩ đó là hoàn toàn sai lầm, khởi kiện là quyền của công dân, khi công dân thực hiện quyền khởi kiện của mình thì buộc Tòa án phải giải quyết, không được từ chối.

II. Khi nào tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự?

1. Khi có yêu cầu phản tố của bị đơn

Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu ngược lại đối với nguyên đơn nếu yêu cầu đó liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc để bù trừ nghĩa vụ. (Ví dụ: Nguyên đơn kiện đòi nhà, bị đơn phản tố đòi tiền sửa chữa, tôn tạo căn nhà đó).

Yêu cầu phản tố của bị đơn là quyền tố tụng độc lập mang tính tấn công ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn. Hiểu một cách đơn giản, nếu nguyên đơn chủ động “tấn công” bằng đơn kiện, thì bị đơn không chỉ phòng thủ (bác bỏ) mà còn có quyền “phản công” bằng một yêu cầu độc lập khác trong cùng một vụ án. Việc này giúp gộp hai việc liên quan lại giải quyết một lần cho nhanh và tránh việc ra các bản án mâu thuẫn nhau.

Trường hợp 1: Yêu cầu để bù trừ nghĩa vụ với nguyên đơn

Ví dụ: Nguyên đơn kiện đòi bị đơn trả 100 triệu đồng tiền mua hàng. Bị đơn phản tố đòi nguyên đơn trả lại 120 triệu đồng tiền sỉ của một lô hàng khác trước đó mà nguyên đơn chưa thanh toán. Nếu tòa chấp nhận cả hai, hai khoản nợ này sẽ được khấu trừ vào nhau.

Trường hợp 2: Yêu cầu loại trừ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn

Ví dụ: Nguyên đơn kiện đòi nhà vì cho rằng họ là chủ sở hữu hợp pháp. Bị đơn làm đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng mua bán giấy tay trước đây giữa hai bên là hợp pháp. Nếu yêu cầu của bị đơn được chấp nhận, yêu cầu đòi nhà của nguyên đơn sẽ bị triệt tiêu (bị loại trừ).

Trường hợp 3: Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn

Nguyên tắc: Nếu giải quyết cùng nhau thì vụ án được xử lý chính xác và nhanh chóng hơn.

Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, nguyên đơn (vợ) chỉ yêu cầu ly hôn và chia tài sản là căn nhà. Bị đơn (chồng) làm đơn phản tố yêu cầu chia thêm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay ngân hàng dùng để sửa chính căn nhà đó.

2. Khi có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nếu một bên thứ ba tham gia vào vụ án và có yêu cầu độc lập liên quan đến đối tượng tranh chấp, Tòa án phải thụ lý và giải quyết đồng thời.

Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là một quyền tố tụng đặc biệt trong vụ án dân sự. Nếu như nguyên đơn chủ động kiện, bị đơn phản tố để “phản công” lại nguyên đơn, thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bước vào vụ án với tư cách là một bên thứ ba.

Họ đưa ra yêu cầu độc lập vì quyền lợi của họ đang bị tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn xâm phạm, và họ muốn bảo vệ nó ngay trong vụ án này chứ không muốn chờ một vụ kiện khác.

Theo Điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, yêu cầu độc lập phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Vụ án dân sự đang được giải quyết

Yêu cầu này chỉ xuất hiện khi đã có một vụ án tồn tại giữa nguyên đơn và bị đơn. Nếu vụ án chưa được thụ lý hoặc đã giải quyết xong, bên thứ ba phải tự khởi kiện bằng một vụ án hoàn toàn mới.

– Yêu cầu của họ có liên quan đến vụ án và độc lập với yêu cầu của cả nguyên đơn lẫn bị đơn

“Độc lập” nghĩa là họ không đứng về phe ai cả. Họ không tham gia để hỗ trợ nguyên đơn thắng, cũng không hỗ trợ bị đơn thắng, mà họ đòi quyền lợi riêng cho chính mình.

– Việc giải quyết yêu cầu độc lập trong cùng vụ án giúp xử lý vụ án chính xác và nhanh chóng hơn

Nếu tách ra riêng sẽ làm vụ án kéo dài, hoặc có nguy cơ ra hai bản án mâu thuẫn, đá nhau về cùng một tài sản/đối tượng tranh chấp.

Ví dụ:

Nguyên đơn (Ông A): Kiện đòi Bị đơn (Ông B) trả lại quyền sử dụng một mảnh đất vì cho rằng ông B lấn chiếm.

Bên thứ ba (Bà C): Thấy ông A và ông B tranh chấp, liền nộp đơn yêu cầu độc lập lên Tòa án, khẳng định: “Mảnh đất này thực chất tôi đã mua lại từ người khác trước đó, có giấy tờ hợp pháp. Cả ông A và ông B đều không có quyền sở hữu. Tôi yêu cầu Tòa án công nhận mảnh đất này thuộc về tôi”.

Trong trường hợp này, yêu cầu của bà C chống lại cả ông A lẫn ông B, độc lập hoàn toàn với việc ai lấn chiếm ai. Tòa án sẽ gộp lại xử một lần để xác định chính xác ai mới là chủ thực sự của mảnh đất.

3. Khi đương sự có thay đổi hoặc chấm dứt yêu cầu của mình

Tòa án không được giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự, chỉ được giải quyết những vấn đề trong phạm vi mà đương sự yêu cầu trước đó, trừ trường hợp trong quá trình xét xử mà đương sự thay đổi yêu cầu của mình vượt quá phạm vi yêu cầu so với lần trước thì Tòa án sẽ giải quyết phần vượt quá này.

Tại khoản 2 điều 5 bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định cụ thể như sau:

“Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”.

Trong quá trình xét xử vụ án dân sự, nếu phát hiện ra quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình cũng bị xâm phạm thì đương sự có quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện của mình, nếu xét thấy nguyên đơn bị thiệt hại từ vụ việc thì cũng có quyền yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại…. Tất cả những thay đổi yêu cầu sẽ được Tòa án tôn trọng và chấp thuận. Việc thay đổi yêu cầu vượt quá được thực hiện theo trinh tự, thủ tục mà pháp luật quy định.

Ví dụ: A kiện B để đòi tiền hợp đồng mua bán với số tiền là 10 tỷ đồng mà trước đó B đã nhận hàng nhưng chưa thanh toán cho A (thời gian chậm trả tiền hàng là 1 năm), trong quá trình tố tụng A muốn thay đổi yêu cầu, thêm một yêu cầu khác nữa, đó là yêu cầu B phải trả tiền lãi của số tiền 1 tỷ đồng đó trong 1 năm theo lãi xuất của ngân hàng, vì A cho rằng B lấy số tiền đó để gửi tiết kiệm ở ngân hàng mà không chịu thanh toán cho A.

Lúc này, Tòa án sẽ chấp nhận và Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của A so với lần đầu là yêu cầu B phải trả thêm tiền lãi của số tiền 1 tỷ đồng đó trong 1 năm theo lãi suất của ngân hàng.

Nhìn vào ví dụ trên chúng ta có thể thấy được rằng, quyền thay đổi yêu cầu của đương sự trong quá trình tố tụng là rất quan trọng đối với đương sự, quyền thay đổi yêu cầu sẽ giúp đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình một cách trọn vẹn và hiệu quả nhất.

Như vậy, trên đây là giải đáp vấn đề Tòa án chỉ giải quyết vụ án dân sự trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì? Khi nào thì Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hy vọng sẽ giúp các bạn hiểu rõ quyền khi tham gia tố tụng dân sự của mình để bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình được tốt hơn. Chúc các bạn thành công!

Tìm hiểu quy trình thủ tục 7 bước nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án chi tiết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *